Bài báo bệnh viện

Lịch Khám bệnh

Một số bài viết khoa học

Các mẫu cam kết điều trị
Phẫu thuật cắt da quy đầu (Download)
Phẫu thuật cắt TTL nội soi niệu đạo (Download)
Phẫu thuật đặt băng nâng niệu đạo (Download)
Phẫu thuật lấy sỏi thận qua da (Download)
Phẫu thuật tán sỏi niệu quản nội soi (Download)
Thủ thuật tán sỏi ngoài cơ thể (Download)

Tư liệu phẫu thuật

Ung thư tuyến tiền liệt

Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh tiến triển chậm, có thể gặp ở đàn ông trên 50 tuổi. Nếu phát hiện sớm và chữa trị kịp thời thì tiên lượng sống còn rất khả quan.
Tuyến tiền liệt là một cơ quan sinh dục chỉ có ở đàn ông, cân nặng khoảng 20 – 25 grams, nằm ngay dưới cổ bàng quang và bao quanh niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài dương vật). Tuyến tiền liệt có nhiệm vụ tạo ra tinh dịch.
Ở người châu Á, tỷ lệ mắc bệnh ung thư thấp hơn người da đen và da trắng.

Triệu chứng

  • Cảm giác đi tiểu không hết, còn sót lại nước tiểu sau khi tiểu
  • Tia nước tiểu yếu, không mạnh như lúc trước.
  • Tiểu đêm nhiều lần
  • Nước tiểu có máu
  • Xất tinh có máu hoặc cảm giác đau buốt khi xuất tinh
  • Đau cột sống, đau vùng xương chậu

Các xét nghiệm chủ yếu cần làm ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt

Trước khi làm các xét nghiệm, bác sĩ sẽ khám trực tràng để phát hiện những dấu hiệu bất thường của tuyến tiền liệt (tuyến tiền liệt cứng, có nhân…)

Định lượng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu của tuyến tiền liệt trong máu (PSA)

Bình thường giá trị PSA dưới 4ng/mL và tỷ lệ PSA tự do so với PSA toàn thể trên 20%. Nếu PSA tăng cao trên 4ng/mL và tỷ lệ PSA tự do/tổng thể dưới 15%, hoặc khi khám tuyến tiền liệt có dấu hiệu bất thường, bệnh nhân sẽ được sinh thiết tuyến tiền liệt để tìm ung thư.

Sinh thiết tuyến tiền liệt dưới hướng dẫn của siêu âm trực tràng


Để xác định ung thư tuyến tiền liệt và đánh giá mức độ ác tính của tế bào ung thư. Sinh thiết có thể thực hiện với gây tê tại chỗ. Bệnh nhân có thể về ngay trong ngày không cần nằm viện.

Chụp cộng hưởng từ vùng chậu (MRI) và xạ hình xương

Khi đã có chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt, bệnh nhân cần làm thêm xạ hình xương và chụp cộng hưởng từ vùng chậu để đánh giá giai đoạn của ung thư (giúp xác định ung thư đã di căn hạch bạch huyết hoặc di căn xa đến xương).

Cách điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Quyết định phương thức điều trị trong ung thư tuyến tiền liệt dựa vào các yếu tố sau đây

  • Tuổi và ước lượng thời gian cuộc sống còn lại của bệnh nhân
  • Các bệnh lý nội khoa (tim mạch, tiểu đường, bệnh phổi…) bệnh nhân đang    có
  • Giai đoạn của bệnh

Giai đoạn 1
Ung thư phát hiện tình cờ khi sinh thiết tuyến tiền (do PSA tăng), thăm khám trực tràng không phát hiện được

Giai đoạn 2
Ung thư phát hiện được khi thăm khám trực tràng. Ung thư còn khu trú trong tuyến tiền liệt chưa phá vỡ vỏ bọc của tuyến

Giai đoạn 3
Ung thư đã phá vỡ vỏ bọc của tuyến tiền liệt
Giai đoạn 4
Ung thư đã di căn hạch, di căn xa đến xương, phổi…
  • Mức độ cao – thấp của trị số PSA máu, mức độ ác tính nhiều – ít của tế       bào ung thư (dựa trên điểm số Gleason của kết quả sinh thiết)
  • Tình trạng di căn hạch hoặc di căn xa
  • Tình trạng sinh hoạt tình dục của bệnh nhân trước mổ

Ung thư tuyến tiền liệt có thể điều trị như sau:

Phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc

Có thể thực hiện bằng phẫu thuật nội soi hoặc phẫu thuật mở (có đường mổ vùng dưới rốn). Mục đích của phẫu thuật là lấy hết toàn bộ tuyến tiền liệt, túi tinh và mô quanh tuyến tiền liệt ra ngoài. Thời gian nằm viện sau mổ từ 2 – 4 ngày tùy thuộc loại phẫu thuật và khả năng phục hồi của bệnh nhân. Phẫu thuật thích hợp cho những trường hợp ung thư giai đoạn sớm (giai đoạn 1 và 2) và ước lượng đời sống còn lại của bệnh nhân trên 10 năm. Nếu ung thư còn khu trú chưa phá vỡ vỏ bao của tuyến và phẫu thuật lấy hết được đến ranh giới an toàn (bờ phẫu thuật không còn mô ung thư) thì khả năng tái phát ở thời điểm 5 năm sau mổ khoảng dưới 10%. Biến chứng sau mổ thường gặp nhất là tiểu không kiểm soát hoàn toàn (5 – 10%), rối loạn cương (70%).

Xạ trị ngoài

Sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư.  Thời gian điều trị kéo dài 6 – 7 tuần. Phẫu thuật thích hợp cho những trường hợp ung thư giai đoạn muộn (chủ yếu là giai đoạn 3 và 4). Các tác dụng phụ thường gặp sau xạ trị là mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, rối loạn triệu chứng tiểu tiện, rối loạn cương…

Đốt tuyến tiền liệt với siêu âm hội tụ (HIFU)

Sử dụng sóng siêu âm (đặt trong trực tràng) để phá hủy tế bào ung thư bằng nhiệt. Thời gian nằm viện sau mổ từ 1 – 2 ngày. Thủ thuật thích hợp cho những bệnh nhân ung thư giai đoạn sớm nhưng không chấp nhận các nguy cơ và biến chứng của phẫu thuật. Những bệnh nhân có chỉ định xạ trị nếu không chấp nhận cũng có thể điều trị thử nghiệm với HIFU nhưng khả năng tái phát sẽ cao hơn so với xạ trị ngoài. Biến chứng thường gặp sau HIFU là hẹp niệu đạo, hẹp cổ bàng quang…

Điều trị bằng nội tiết

Mục tiêu điều trị là cắt đứt nguồn cung cấp testosteron để tế bào ung thư không thể phát triển tiếp tục. Điều trị nội tiết chỉ áp dụng cho những bệnh nhân đã có di căn hoạch hoặc di căn xa. Bệnh nhân có thể lựa chọn giữa phẫu thuật cắt bỏ 2 tinh hoàn hoặc sử dụng thuốc chích (mỗi 28 ngày chích một lần, liên tục trong ít nhất 6 – 12 tháng). Hiệu quả của 2 phương pháp này là như nhau.

LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TỐT NHẤT TRONG UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

 

GIAI ĐOẠN SỚM
(T1 – T2)

GIAI ĐOẠN MUỘN
(T3 – T4)

DI CĂN

PHẪU THUẬT

XẠ TRỊ

NỘI TIẾT

HIFU

Sa cơ quan Niệu – Sinh dục ở phụ nữ
Lựa chọn điều trị sỏi niệu quản đoạn trên kích thước > 10mm
Bài tập kiểm soát đường tiểu
Điều trị tiểu không kiểm soát
Nguyên nhân gây bệnh sỏi đường tiết niệu
Bệnh sỏi niệu thận
Ung thư thận
Rối loạn cương dương
Giãn tĩnh mạch tinh
Phì đại tuyến tiền liệt
Ung thư tuyến tiền liệt
Sinh thiết tuyến tiền liệt
Tiểu không kiểm soát
Bàng quang kích thích
Ung thư bàng quang
Cắt tuyến tiền liệt nội soi niệu đạo
Phẫu thuật nội soi lấy sỏi thận qua da
Phẫu thuật tán sỏi nội soi niệu quản
Đặt thông DJ niệu quản